Thứ Sáu, ngày 31 tháng 10 năm 2014

Vĩnh biệt nhà thơ - soạn giả Kiên Giang

(TNO) Nhà thơ, soạn giả cải lương Kiên Giang (Hà Huy Hà) vừa bị một cơn đột quỵ và lâm vào tình trạng hôn mê sâu tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (TP.HM).



Nhà thơ Kiên Giang - Ảnh: Đào Trung Phụng

Chị Ngọc Thùy, con gái lớn của nhà thơ, cho biết do đọc được trên báo có tin một bé sơ sinh bị bỏ rơi ngoài đường, nhà thơ đã gom chút tiền hưu, đón xe từ TP.Long Xuyên (nơi ông an dưỡng cuối đời) lên TP.HCM để giúp đỡ cho trường hợp này. Tuy nhiên, vừa tới TP.HCM, chưa kịp thực hiện ý định thì ông bị đột quỵ vào xế trưa 28.10. Người nhà của cố nhà báo Phong Vân đã đưa ông vào cấp cứu tại Bệnh viện Quận 8, sau đó chuyển ông qua Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (Q.5), và từ đó đến nay ông chưa tỉnh lại.

Nhà thơ Kiên Giang tên thật là Trương Khương Trinh, sinh ngày 17.2.1929 tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá. Năm 17 tuổi (1946), đang là học sinh, Trương Khương Trinh đã có dịp tiếp xúc và gần gũi với nhà thơ Nguyễn Bính tại Rạch Giá và tôn Nguyễn Bính là thầy dạy làm thơ của mình (bài thơ Tiền và lá của ông chịu ảnh hưởng rõ nét của Nguyễn Bính). Sau này, ông làm thơ lấy bút danh là Kiên Giang (bài thơ nổi tiếng của Kiên Giang là Hoa trắng thôi cài lên áo tím được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc).

Ông còn là một soạn giả cải lương nổi tiếng với bút danh Hà Huy Hà, cùng thời với Năm Châu, Viễn Châu và được coi là thầy của cặp soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng. Những vở cải lương mang dấu ấn Hà Huy Hà là Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cưới (vở này đã đưa cô đào Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm năm 1958). Ngoài làm thơ, soạn kịch bản cải lương, Kiên Giang còn là ký giả kịch trường của nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn trước 1975 như: Tiếng chuông, Tiếng dội, Lập trường, Điện tín…Ông từng bị tù vì là một trong những người tổ chức Ngày ký giả ăn mày, phản đối Luật báo chí sửa đổi của chính quyền Sài Gòn năm 1974.

Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc tình trạng sức khỏe của nhà thơ Kiên Giang.




Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che khuất người thương nóc giáo đường
Mười năm trước em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh
Quen biết nhau qua tình lối xóm
Cổng trường đối diện ngó lầu chuông
Mỗi lần chúa nhật em xem lễ
Anh học bài ôn trước cổng trường
Thuở ấy anh hiền và nhát quá
Nép mình bên gác thánh lầu chuông
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi
Sau mười năm lẻ anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi, chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình!
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Vẫn còn ấp ủ mộng băng trinh
Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ tà áo tím, màu hoa trắng
Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường
Giặc chiếm lầu chuông xây gác súng
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh gom gạch đổ, xây tường lủng
Chiếm lại lầu chuông, giết kẻ thù
Nhưng rồi người bạn trang lứa ấy
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ngân vang lời tiễn biệt
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nắp áo quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học trò, mờ thắm tươi
Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
Từ đây tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng lên mồ người xưa.
Tiền và lá
Ngày xưa, hớt tóc "miểng rùa”
Ngây thơ, mẹ bắt đeo "bùa cầu ông".
Đôi ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh.
Đôi nhà cũng một sắc tranh,
Chia nhau từ một trái chanh, trái đào .
Đêm vàng soi bóng trăng cao,
Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời .
Anh moi đất nắn "tượng người",
Em thơ thẩn nhặt lá rơi làm tiền.
Mỗi ngày chợ họp mười phiên,
Anh đem "người đất" đổi tiền "lá rơi".
Nào ngờ mai mỉa cho tôi,
Lớn lên em đã bị người ta mua.
Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.
Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.
Bây giờ những buổi chiều êm,
Anh gom lá đốt, khói lên tận trời
Người mua đã bị mua rồi,
Chợ đời họp một mình tôi vui gì!
Kiên Giang



Hà Đình Nguyên

>> Những bóng hồng trong thơ nhạc - Kỳ 6: Hoa trắng thôi cài trên áo tím
>> Nửa thế kỷ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”
>> Hoa trắng thôi cài lên áo tím" 50 tuổi
 
 



TTO - Sau một cơn đột quỵ, nhà thơ Kiên Giang nổi tiếng với bài Hoa trắng thôi cài trên áo tím đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương (TP.HCM) lúc 6g30 sáng ngày 31-10.

Soạn giả Kiên Giang và nghệ sĩ Phượng Liên, tháng 3- năm 2014 - Ảnh: T.T.D
Nhà thơ - soạn giả Kiên Giang - Hà Huy Hà trong chương trình thơ nhạc mừng thượng thọ 81 tuổi của ông tại Trung tâm văn hóa Phú Nhuận, TP.HCM, năm 2008 - Ảnh tư liệu Tuổi Trẻ
Nhà thơ - soạn giả Kiên Giang - Ảnh tư liệu
Ông (hưởng thọ 87 tuổi) tên thật là Trương Khương Trinh, gia đình cho biết tuy nhiều tài liệu ghi ông sinh năm 1929 nhưng chính xác ngày sinh của ông là 17-2-1927 tại làng Đông Thái, huyện An Biên, Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Khi bước chân vào văn đàn, ông đã lấy tên quê hương để đặt bút hiệu cho mình là Kiên Giang.
Thưở sinh thời, nhà thơ Kiên Giang từng tâm sự khi vừa hết lớp 12 ông tham gia kháng chiến chống Pháp, làm báo cho tờ Tiếng súng chống địch ở chiến khu 9. Khoảng năm 1955, ông về Sài Gòn viết cho các tờ Dân chủ mới, Tiếng chuông, Dân ta, Dân tiến…
Thơ của Kiên Giang được nhiều người yêu mến và thuộc nằm lòng cho đến ngày nay. Ông nổi tiếng với bài Hoa trắng thôi cài trên áo tím, lấy cảm hứng từ mối tình đầu sâu đậm, trong sáng với cô nữ sinh xóm Đạo vùng đất Tây đô. Bài thơ này sau đó được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc và rất được công chúng yêu thích.
Ông đã xuất bản các tập thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím, Lúa sạ miền Nam, Quê hương thơ ấu…
Ngoài làm thơ, làm báo, Kiên Giang còn viết nhiều tuồng cải lương rất nổi tiếng với bút danh Hà Huy Hà như: Người đẹp bán tơ, Người vợ không bao giờ cưới, Ngưu Lang Chức Nữ, Áo cưới trước cổng chùa, Phấn lá men rừng, Dòng nước ngược, Trương Chi Mỵ Nương…
Ông được xem là soạn giả nổi tiếng cùng thời với NSND Năm Châu, NSND Viễn Châu, Quy Sắc…, và là thầy của cặp đôi soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng. Vở Người vợ không bao giờ cưới của soạn giả Kiên Giang - Hà Huy Hà thời đó đã giúp NSƯT Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm danh giá và trở thành ngôi sao cải lương sáng rực thời bấy giờ.
Soạn giả Kiên Giang - Hà Huy Hà cũng viết rất nhiều bài tân cổ giao duyên như: Trái gùi Bến Cát, Đội gạo đường xa, Ngồi trâu thổi sáo, Ánh đèn soi ếch, Trái tim cò trắng, Cô gái miền Tây…
Sau 1975, nhà thơ Kiên Giang làm phó đoàn cải lương Thanh Nga, làm việc tại phòng nghệ thuật sân khấu. Ông cũng từng là ủy viên ban chấp hành Hội sân khấu TP.HCM qua ba nhiệm kỳ.
Gia đình sẽ tổ chức khâm liệm nhà thơ - soạn giả Kiên Giang vào lúc 5g ngày 1-11, linh cữu của ông sẽ được quàn tại nhà tang lễ Thành phố số 25, Lê Quý Đôn. Lễ động quan lúc 7g ngày 3-11, sau đó đưa đi an táng tại nghĩa trang Bình Dương (Chánh Phú Hòa, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương).
Nhà thơ - soạn giả Kiên Giang - Ảnh: Đào Trung Phụng


LINH ĐOAN





Vĩnh biệt nhà thơ Kiên Giang
image
Nhà thơ Kiên Giang, tên thật Trương Khương Trinh sinh ngày 17/2/1929 tại Kiên Giang đã từ trần lúc 6h30 sáng nay (31/10) tại BV Nguyễn Tri Phương sau nhiều ngày hôn mê sâu vì đột quỵ.
Khi tôi xuất hiện trên văn đàn với tư cách một nhà thơ, lúc ấy, nhà thơ Kiên Giang đã hoạt động hẳn bên sân khấu. Rồi tình cờ một buổi sáng nọ, Kiên Giang đã tặng tôi tập thơ tuyển Hoa trắng thôi cài trên áo tím (NXB Văn Học), in theo khổ 20x 26cm. Tôi cảm động hết sức vì đã tìm lại được ở đó nguyên vẹn những cảm xúc của tuổi nhỏ qua những tập thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím, Quê hương thơ ấu, Lúa sạ miền Nam… do NXB Phù Sa in từ thập niên 1960 mà tôi đã từng đọc.

Có những nhà thơ đã để lại những vần thơ mà thế hệ sau cứ ngỡ là ca dao. Đó là những câu lục bát của Á Nam Trần Tuấn Khải, Tản Đà, Bàng Bá Lân… rồi bây giờ là Kiên Giang. Ít ai ngờ rằng, những câu hát quen thuộc trong trí nhớ nhiều thế hệ như: “Đói lòng ăn nửa trái sim / Uống lưng bát nước đi tìm người thương” hoặc “Ong bầu đậu đọt mù u / Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn”… chính là thơ của Kiên Giang.

image
Nhà văn Sơn Nam từng tâm sự: “Một cuộc đời lăn lóc, chẳng bao giờ khấm khá, về già làm chuyện ái hữu, tương tế, quả là thành đạt, không xấu hổ với đất nước. Đây là một người bạn cùng xóm, cùng làng, cùng xứ U Minh mà tôi lấy làm tự hào và thật lòng ca ngợi”.

Thời kháng chiến chín năm, Kiên Giang đã được gặp nhà thơ lừng danh Nguyễn Bính mà ông kính trọng như người thầy. Sự gặp gỡ này đã giúp ích nhiều cho Kiên Giang trong sáng tác. Nhiều bài thơ của ông viết trong thời gian này như Tiền và lá - nhiều người lại lầm tưởng là thơ Nguyễn Bính!

Trong bài thơ này có những câu hay như:

"Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
V
n riêng ch có muôn mùa lá rơi.
Ti
n không là lá em ơi!
Ti
n là giy bc ca đi in ra.
Ng
ười ta giy bc đy nhà,
Cho nên m
i được gi là chng em".

Trong dòng văn học yêu nước trước 1975, gương mặt thơ Kiên Giang không lẫn lộn với một ai khác. Nhà văn Sơn Nam hoàn toàn có lý khi nhận xét: “Kiên Giang nhúng hồn thơ trong niềm đau và hào khí của người miền Nam đã dày công khai phá đất đai mở rộng chân trời xanh, phản ánh ít nhiều đường nét linh động thâm trầm của nền văn minh miệt vườn”. Thật vậy, những vần thơ của ông ngùn ngụt sức sống và bát ngát hào khí của vùng đất:

"Lúa ln xung tránh mùi tanh thuc súng
Thân lúa m
m nhưng do bn chân đng
Đ
ng cùng người cùng lch s min Nam
Dù đ
n đau bm gip chng rên than
Khi g
c xung là hn hò qut khi"

Chính vì thế những vần thơ ái quốc của ông đã không thoát được lưỡi kéo kiểm duyệt khắc nghiệt của chế độ cũ. Lật lại Lúa sạ miền Nam thì thấy bài thơ này bị kiểm duyệt 43 câu, bài Bàn tay phấn bị bỏ nguyên bài 36 câu, bài Giở bài chòi bị bỏ trọn bài 14 câu, bài Tiếng ru ba miền bị bỏ 13 câu, v.v… Thế đó, không nao núng và thỏa hiệp, Kiên Giang vẫn bền chí hướng vần thơ của mình theo con đường đã chọn - dù đôi ba lần cũng ngồi tù chính trị như những người cầm bút chân chính khác. Ông là người đầu tiên dùng thơ để tôn vinh cái chết của nữ liệt sĩ Quách Thị Trang là người đã công khai tuyên bố:

"Người và lúa t đu mùa kháng chiến
Ôm ghì nhau d
ng trường thành chiến tuyến
Ng
n tm vông đi din vi giày đinh
Súng pháo tre át ti
ếng súng đng
Khi trái tim c
n đu xe thiết giáp"

Điều lạ lùng ở thơ Kiên Giang là bao giờ trong những vần thơ hào khí ấy, chúng ta cũng đều thấy hiện lên bà mẹ Việt Nam hồn hậu, nhân ái mà lúc tuyệt vọng nhất “Men đời đắng lắm mẹ hiền ơi!” thì ông đều tìm sự an ủi, vỗ về của mẹ. 
Do đó, không phải ngẫu nhiên mà bài thơ Ngủ bên chân mẹ được bạn đọc Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay bình chọn là bài thơ hay nhất của năm 1992. Nếu bà mẹ của thi hào Baudelaire ngửa mặt lên trời mà gào tại sao trời bắt con bà phải làm thi sĩ, thì mẹ Kiên Giang chỉ nhỏ nhẹ: “Mẹ biết con làm cái nghề này, chết đói, nhưng mẹ nghe được bài thơ rồi thì quý lắm, không có gì đổi được”. Ngẫm nghĩ lại mà rưng nước mắt.

image
Bây giờ, nhà thơ Kiên Giang của chúng ta đã về Đất Mẹ. Linh cữu ông được quàng tại Nhà Tang lễ TPHCM, sau đó, ngày 3/11/2014 sẽ an táng tại Nghĩa trang Chánh Phú Hòa (Bình Dương), cạnh mộ nhà văn Sơn Nam.

Vĩnh biệt ông, tôi tin rằng, có một điều chắc chắn: Kiên Giang - hồn thơ của miền Nam đất Việt - đã không đi chệch hướng “Lành mạnh, thanh cao, vị tha và ái quốc” mà nhà phê bình văn học Thiếu Sơn (1907-1978) đã nhận định từ thập niên 60.

*****

ĐẸP HẬU GIANG

image
Đây Hu Giang ! Đây Hu Giang !
Nhánh sông gn bó Cu Long Giang
Phù sa cun chy trong dòng nước
Khói sóng hòa hơi th xóm làng.

Nơi đây đi sng thanh bình lm
Vi đt phì nhiêu nước Hu Giang
Vú sa Cn Thơ căng ý mng
Su riêng Long M nh mang mang.

Mui Bc Liêu mn tình bin c
Tiêu Hà Tiên nng ý quê hương
Thơm tho gói thuc mùi Cao Lãnh
Cá cháy bùi ngon v Sóc Trăng.

Go móng chim thơm mùi r ngt
Nu ni Hòn Đt, lò Hòn Me
Chm than đượm la lòng cây đước
Ôi la Cà Mau đp ý quê !

Tàu mt ct em chm nón lá
Anh đi đu che nng chang chang
Sáng cày, khuya cy, chiu phăng lưới
Anh nh tâm tình gái Hu Giang.

Năm nao thiếu áo không mùng ng
Sao nh bàn tay gái Tht Sơn
Đêm ti nh bàng đương đm nóp
Mc cho tiếng súng vng bên đn.

Qua mùa nước ni vùng Châu Đc
Nh lá Cà Mâu vi lóng tre
Cng choi U Minh thương luc lt
Đèn khuya mi sáng gia nhà bè.

Hòn Tre, Phú Quc dù xa bãi
Vn ni tình thương mnh đt lin
Nước bin phù sa trào máu đt
Đt bi cho máu tr v tim.

Nếu thiếu lá da soi bóng nước
Thiếu bông lúa tr, búp măng tre
Cánh diu không vút trên lưng gió
Thì chết trong lòng nhng ý quê !

Nếu cô thôn n ngng câu hát
Nếu bn thương h bt tiếng ca
Nước bc trường giang không chy na
Hoa bn thôi rng xung phù sa !

Nh li năm nao, ngày chy lon
Hu Giang trm mc gia nim kinh
Mùi diêm thuc súng m hương khói
Chuông vng nim đau khóc thái bình.

Tr li xóm da mùa la lon.
Ngi trên bến cũ lng không gian
Vô tình tôi vt trong lòng nước,
Git máu min Nam, máu Hu Giang.

Nước chy mt dòng ra bin c
Vn mang tình nước Cu Long Giang
Sông ơi ! Dù nước ra khơi bin
Vn nh chan hòa Hu Giang !

Cần Thơ, 1955 - KIÊN GIANG
(Theo bản in trong “Tìm hiểu đất Hậu Giang” của Sơn Nam)

*****

HOA TRẮNG THÔI CÀI LÊN ÁO TÍM
Tác giả: Kiên Giang
image
Lâu quá không v thăm xóm đo
T ngày binh la cháy quê hương
Khói bom che l
p chân tri cũ
Che c
người thương nóc giáo đường
Mười năm trước em còn đi hc
Áo tím đi
m tô đi n sinh
Hoa tr
ng cài duyên trên áo tím
Em còn nguyên v
n tui băng trinh
Quen biết nhau qua tình li xm
C
ng trường đi din ngó lu chuông
M
i ln chúa nht em xem l
Anh h
c bài ôn trước cng trường
Thu y anh hin và nhát quá
Nép mình bên gác thánh l
u chuông
Đ
nghe khe kh li em nguyn
Th
ơ thn ch em trước thánh đường
Mi ln tan l, chuông ngng đ
Hai bóng cùng đi m
t li v
E l
em cu kinh nho nh
Th
n thùng, anh đng li không đi
Sau mười năm l anh thôi hc
N
c n chuông trường bui bit ly
R
n rã tng hi, chuông xm đo
Khi nàng áo tím b
ước vu quy
Anh nhìn áo cưới mà anh ng
Chi
ếc áo tang lim kín khi su!
Hoa tr
ng thôi cài trên áo tím
Gi
làm chi k vt ban đu!
Em lên xe cưới v quê chng
Dù cách đò ngang cách m
y sông
V
n nh bóng vang thi áo tím
Nên tình th
ơ kín trong lòng
T lúc gic rung vô xóm đo
Anh làm chi
ến sĩ gi quê hương
Gi
màu áo tím, cành hoa trng
Gi
c trường xưa, nóc giáo đường
Gic chiếm lu chuông xây súng
Súng g
m rung đ gch nhà th
Anh đem g
ch nát, xây tường lng
Chi
ếm li lu chuông, giết k thù
Nhưng ri người bn đng song y
Đã ch
ết hiên ngang dưới bóng c
Chuông đ
ban chiu, hi vĩnh bit
Ti
n anh ra khi cng nhà th
Hoa trng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên n
p áo quan tài
Đi
m tô công trn bng hoa trng
Hoa tu
i hc trò, m thm tươi
Xe tang đã khut no đi
Chuông nhà th
khóc đưa người ngàn thu
T
đây tóc rũ khăn sô
Em cài hoa tr
ng lên m người xưa.

image




Lê Quốc Minh