Thứ Sáu, ngày 27 tháng 6 năm 2014

Cần tiếp cận thích đáng với khoa học giáo dục hiện đại

Lê Vinh Quốc (TS Giáo dục)

 
Hình ảnh của Cần tiếp cận thích đáng với khoa học giáo dục hiện đại
 
Đề tài góp ý cho công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà đang được dư luận đặc biệt quan tâm. Tiếp theo bài viết rất sâu sắc của tác giả Lê Tự Hỷ nhan đề Vài nhận xét về chủ trương Đổi mới giáo dục đăng trên Hồn Việt số 76 (tháng 12-2013), tôi xin góp thêm tiếng nói cho đề tài rất quan trọng này.
Do những sự lắt léo của lịch sử, nước ta bị ngăn cách với khoa học giáo dục hiện đại trong nhiều thập kỷ, khiến cho nền giáo dục Việt Nam bị lạc hậu rất xa so với các nước tiên tiến trên thế giới. Vì thế, muốn cho công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước ta đi đến thành công, thì khoa học giáo dục hiện đại quốc tế phải được tiếp cận để áp dụng một cách thích đáng.
1)Nếu chỉ tiếp cận với giáo dục nước ngoài một cách sơ sài và nông cạn, rồi vội vã đem nhận thức chủ quan của người có trách nhiệm áp dụng vào việc đổi mới giáo dục nước ta, thì sẽ khó tránh khỏi những hậu quả tai hại.
Trong cuộc đổi mới giáo dục cuối thế kỷ 20, nhận thức được rằng kiểu chương trình đồng nhất áp dụng cho bậc trung học phổ thông (THPT) hiện hành là quá lạc hậu so với thế giới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho xây dựng một chương trình phân ban thí điểm để thay thế nó. Nhưng chương trình này được phân ban theo tư duy chủ quan lỗi thời của những người chịu trách nhiệm, không hề tham chiếu lý luận và mô thức quốc tế hiện đại. Xuất phát từ quan niệm cũ coi giáo dục phổ thông chỉ là nơi “dạy chữ và dạy người” bằng các môn văn hóa và khoa học cơ bản, chương trình thí điểm phân ban chỉ dựa trên các bộ môn đó để phân chia thành 4 ban A, B, C, D (theo 4 khối thi đại học), thêm ban E dành cho những em không có khả năng thi đại học mà cũng chẳng được dạy nghề gì để ra đời (!). Thí điểm này thất bại, Bộ lại thí điểm 3 ban: ban A (toán, lý, hóa, sinh), ban C (văn, sử, địa) và ban B (giống như ban E trước kia). Kết quả là không có học sinh nào xung phong vào ban B, rất ít học sinh đăng ký ban C và đại đa số các em chọn ban A. Thí điểm này hoàn toàn thất bại, buộc Bộ phải hủy bỏ để quay về với chương trình THPT đồng nhất (kèm theo 4 khối thi đại học A, B, C, D và ngày càng thêm nhiều khối phụ).
Cùng lúc đó, tiếp nhận hình thức tổ chức của hệ thống đại học Hoa Kỳ, Bộ tiến hành đổi mới giáo dục đại học bằng một chương trình “2 giai đoạn” để nâng cao chất lượng đào tạo; đồng thời thành lập 2 đại học quốc gia và mấy đại học “vùng”, với tham vọng để các đại học này đạt được “tầm cỡ quốc tế”. Tuy nhiên, do chưa hiểu rõ về thực chất bên trong hệ thống đại học 2 giai đoạn của Hoa Kỳ mà vội đem áp dụng vào nước ta theo ý tưởng chủ quan của giới chức có thẩm quyền (tai hại nhất là việc hiểu sai khái niệm “general education”), nên chương trình 2 giai đoạn của Bộ đã trở nên dị dạng, khác hẳn với nguyên mẫu của Mỹ, gây tổn hại cho chất lượng đào tạo và bị thực tiễn bác bỏ; còn các đại học quốc gia và đại học “vùng” dù vẫn tồn tại nhưng không hề đạt được “tầm cỡ quốc tế”.
Trong cuộc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đầu thế kỷ 21, một chương trình phân ban THPT mới lại được xây dựng theo cách tư duy cũ và cũng không biết đến mô thức quốc tế hiện đại, nên nó lại đi theo vết xe đổ của chương trình thí điểm trước đó.

 


2) Trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục hiện nay, cơ quan hữu trách đã tham khảo các thông tin về chương trình học và sách giáo khoa hiện hành ở nước ngoài. Nhờ đó, việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới sau năm 2015 đã được định hướng đúng: chú trọng “phát triển năng lực người học; không chạy theo khối lượng tri thức, mà chú ý khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm”; “phân hóa mạnh mẽ ở bậc học cuối phổ thông, giúp người học phát huy năng lực, sở trường, chuyên sâu vào môn học theo định hướng nghề nghiệp”(1)… Nhưng để tìm được những giải pháp thích hợp với định hướng đó, rồi làm cách nào để biến những giải pháp đó thành một chương trình giáo dục tốt theo chuẩn mực quốc tế lại là một loạt vấn đề hết sức nan giải. Các vấn đề này chỉ có thể được giải quyết bằng tri thức khoa học giáo dục hiện đại, nhất là chuyên môn nghiệp vụ về phát triển chương trình học (curriculum development), về đo lường và đánh giá (measurement and evaluation)... Qua sự giải thích các vấn đề này của giới chức có thẩm quyền, có thể nhận thấy những khái niệm khoa học như “tiếp cận năng lực”, “phân ban”, “phân hóa”, “tích hợp kiến thức”… được nhận thức rất mơ hồ với những sự ngộ nhận đáng ngại, nên đã dẫn tới một mô hình dự kiến cho chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 với những thiếu sót và nhược điểm rất rõ ràng, trong đó chương trình THPT là một sự lẫn lộn giữa chương trình học đồng nhất (uniform curriculum) với chương trình học phân ban (divisional curriculum) và chương trình học tự chọn (elective curriculum).
Sự mù mờ về chương trình học đã dẫn thẳng tới giải pháp sai lầm cho kỳ thi tốt nghiệp THPT: “Kỳ thi cuối cấp sẽ yêu cầu vận dụng, tổng hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học để giải quyết một vấn đề theo hai lĩnh vực lớn là khoa học xã hội - nhân văn và khoa học tự nhiên, hoặc cũng có thể chỉ tổ chức thi hai môn văn, toán (thay cho sáu môn thi như hiện nay)”(2). Khoa học giáo dục không cho phép tổ chức một kỳ thi tốt nghiệp theo kiểu cắt xén thô thiển như vậy. Đánh giá học sinh tốt nghiệp bằng cách nào là tùy thuộc vào loại chương trình học nào được áp dụng. Nếu áp dụng chương trình tự chọn (như ở Mỹ), thì học sinh chỉ cần tích lũy đủ số tín chỉ cần thiết trong quá trình học là đủ tiêu chuẩn tốt nghiệp, mà không cần có kỳ thi tốt nghiệp quốc gia hay từng địa phương. Nếu áp dụng chương trình phân ban (như ở Pháp) thì phải tổ chức nghiêm túc kỳ thi quốc gia Tốt nghiệp THPT. Thay cho cách chọn 6 môn thi như hiện nay, kỳ thi Tốt nghiệp THPT phải thực hiện nguyên tắc “học môn nào thi môn đó”; tùy theo từng ban sẽ quy định các môn thi, thời lượng làm bài và hệ số tính điểm của từng môn. Với chương trình học và thi như vậy, kết quả học tập ở trường THPT mới có đủ giá trị dùng cho tuyển sinh đại học, mà không cần đến kỳ thi quốc gia “ba chung, bốn khối” hiện hành.
Phân tích mô hình dự kiến cho chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015, nhà giáo dục Lê Tự Hỷ ở Hoa Kỳ đã vạch rõ những sai lầm và bất cập trong đó để cảnh báo rằng: “Nếu bắt chước Mỹ mà không hội đủ các điều kiện ‘cần’ như Mỹ để kiểm tra chất lượng thì sẽ không có kết quả tốt đẹp như mong muốn, mà nhiều khi tạo ra ‘tình trạng loạn’ cho giáo dục và nguy hiểm cho xã hội”(3).
3) Việc lấp đầy khoảng trống nhận thức về khoa học giáo dục hiện đại do mấy thập kỷ để lại không thể thực hiện trong một sớm một chiều, mà nhu cầu đổi mới giáo dục lại hết sức cấp bách. Vì thế, để nhanh chóng tiến tới một nền giáo dục hiện đại cho đất nước, chúng ta cần tiếp cận với giáo dục quốc tế theo cách khác với những gì đã qua. Phát huy lợi thế của những nước đi sau được tận dụng thành quả của các quốc gia đi trước, chúng ta nên lựa chọn khuôn mẫu giáo dục của một quốc gia tiên tiến phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, nghiên cứu kỹ lưỡng khuôn mẫu đó để áp dụng vào nước ta theo cách thức tương tự như “chuyển giao công nghệ” trong lĩnh vực kinh tế.
Thật may là đã có sẵn một khuôn mẫu như vậy để chúng ta lựa chọn. Từ thời thực dân Pháp còn cai trị xứ thuộc địa Đông Dương, nền giáo dục tiên tiến của nước Pháp du nhập vào Việt Nam đã tạo nên những trường học danh tiếng như Trung học Pétrus Ký, Trung học Albert Sarraut, Đại học Đông Dương và nhiều trường khác. Chính nền giáo dục này đã đào tạo nên hàng loạt nhân tài Việt Nam trong nhiều lĩnh vực văn hóa khoa học ở tầm cỡ quốc tế. Tiếp theo đó, hệ thống các “trường Tây” ở Việt Nam vẫn giữ nguyên uy tín thương hiệu của nó cho đến năm 1975. Giáo dục Pháp ngày nay vẫn đứng ở hàng đầu châu Âu và thế giới, lại rất quen thuộc với xã hội Việt Nam, nên chương trình giáo dục phổ thông của nước này cần được chúng ta lựa chọn để nghiên cứu ứng dụng. Những vấn đề về xây dựng chương trình học, phát triển năng lực người học, tích hợp kiến thức… đều có sẵn câu trả lời trong đó. Riêng chương trình Tú tài phân ban Pháp (từ lớp 10 đến lớp 12) có giá trị đặc biệt. Theo khoa học giáo dục hiện đại, chức năng của giáo dục phổ thông không chỉ “dạy chữ và dạy người” mà còn là hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh. Vì thế, chương trình Tú tài phân ban Pháp không chỉ có các môn văn hóa và khoa học cơ bản, mà còn bao gồm nhiều môn kỹ thuật - công nghệ. Chương trình được chia thành 10 ban được sắp xếp trong 3 khối: Khối Tú tài Cơ bản với 3 ban (Văn chương, Kinh tế - Xã hội, Khoa học tự nhiên); Khối Tú tài Công nghệ với 5 ban (Khoa học - kỹ thuật phòng thí nghiệm, Khoa học - kỹ thuật Công nghiệp, Khoa học - kỹ thuật quản lý, Khoa học - kỹ thuật Y tế và Xã hội, Quản lý khách sạn) và Khối Tú tài Nghề với 2 ban (Khu vực sản xuất, Khu vực dịch vụ)(4). Sau khi tốt nghiệp Tú tài, học sinh sẽ học lên đại học theo từng ban đã học, hoặc sẽ vào đời kiếm sống theo các nghề nghiệp đã được đào tạo (rồi vẫn có thể học lên nếu muốn và có đủ điều kiện).
Nếu chương trình phân ban này được nghiên cứu ứng dụng vào nước ta (với những sự điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam), thì chúng ta sẽ có một chương trình THPT đáp ứng đầy đủ yêu cầu “phân hóa mạnh mẽ ở bậc học cuối phổ thông” theo định hướng đúng đắn của cuộc đổi mới giáo dục hiện hành. Bên cạnh đó, chương trình phân ban theo kiểu Pháp cho bậc Trung học Đệ nhị cấp (gồm các lớp 10, 11, 12) ở miền Nam nước ta trước 1975, mặc dù không hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh đất nước hiện nay, cũng đáng để chúng ta tham khảo. Chương trình này bao gồm 8 ban: ban A (Khoa học thực nghiệm), ban B (Khoa học toán), ban C (Văn chương sinh ngữ), ban D (Văn chương cổ ngữ), ban E (Kinh tế gia đình), ban F (Doanh thương), ban G (Công kỹ nghệ) và ban H (Canh nông)(5). Đã được thực hiện thành công trước ngày đất nước thống nhất, chương trình này trở thành kinh nghiệm đảm bảo cho một chương trình THPT phân ban mới sau năm 2015 ở nước ta sẽ được vận hành tốt.
Đối với giáo dục đại học, cần nghiên cứu lại một cách nghiêm túc chương trình đại học 2 giai đoạn với học chế tín chỉ của Hoa Kỳ, trong đó chú trọng vai trò của các đại học cộng đồng, để áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Chính việc nghiên cứu ứng dụng này sẽ giúp chúng ta tránh được những sai lầm trong quá trình đổi mới đã qua và sắp tới, mở đường cho các đại học Việt Nam tiến tới “đẳng cấp quốc tế” mà chúng ta từng mơ ước.
_____
(1) Dẫn theo Vĩnh Hà, Có thể xóa sổ kỳ thi đại học, Tuổi Trẻ 20-9-2013.
(2) Dẫn theo Đào Quốc Toàn, Cơ hội quan trọng mang tính đột phá, Tạp chí Thế Giới Mới số 37 (ngày 30-9-2013).
(3) Lê Tự Hỷ, Vài nhận xét về chủ trương “Đổi mới giáo dục”, Tạp chí Hồn Việt số 76 (tháng 12-2013).
(4) Xem: http://www.education.gouv.fr/cid52071/baccalaureat-2010.html# Les chiffres cles. Baccalaureat 2010, Dossier de presse-Luc Chatel 11-6-2010.
(5) Xem: Bộ Giáo dục, Chương trình Trung học Tổng hợp Đệ nhị cấp, Sài Gòn 1972.